KỶ NIỆM 300 NĂM NGÀY SINH DANH NHÂN VĂN HÓA LÊ QUÝ ĐÔN (1726 – 2026):Lê Quý Đôn – Biểu tượng của trí tuệ, tinh thần hiếu học và khát vọng cống hiến vì đất nước.
(1).jpg)
Năm 2026, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta long trọng kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn (1726 – 2026). Đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị, văn hóa và giáo dục sâu sắc, nhằm tôn vinh một trong những trí thức tiêu biểu của dân tộc Việt Nam; đồng thời góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, hiếu học, trọng dụng nhân tài, khơi dậy tinh thần học tập suốt đời và khát vọng cống hiến trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.
.jpg)
Trong lịch sử văn hiến Việt Nam, Lê Quý Đôn là một trong những trí thức xuất sắc, có đóng góp nổi bật trên nhiều lĩnh vực như chính trị, giáo dục, sử học, địa lý, văn học và văn hóa. Với trí tuệ uyên bác, phương pháp nghiên cứu nghiêm túc và tinh thần luôn hướng tri thức vào việc phụng sự quốc gia, dân tộc, ông đã để lại cho dân tộc một di sản học thuật đồ sộ, có giá trị lâu dài trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa và khoa học xã hội.
Lê Quý Đôn, tên thuở nhỏ là Lê Danh Phương, tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, sinh ngày mồng 2 tháng 8 năm Bính Ngọ (1726) tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay thuộc xã Lê Quý Đôn, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh ra trong một gia đình khoa bảng giàu truyền thống học hành. Thân phụ ông là Tiến sĩ Lê Trọng Thứ, một vị quan thanh liêm, học rộng; thân mẫu là bà Nguyễn Thị Diên, người phụ nữ đức hạnh, luôn quan tâm giáo dục con cái. Chính truyền thống gia đình cùng nền văn hiến của quê hương đã góp phần hình thành ở Lê Quý Đôn tinh thần ham học, ý chí vươn lên và khát vọng đem tài năng phục vụ đất nước.
Ngay từ nhỏ, Lê Quý Đôn đã sớm bộc lộ tư chất thông minh, khả năng học tập vượt trội và niềm say mê đặc biệt với sách vở. Tuy nhiên, tài năng của ông không chỉ đến từ thiên bẩm mà còn được vun đắp bằng tinh thần tự học bền bỉ, sự cần cù nghiên cứu và phương pháp học tập khoa học. Ông luôn quan niệm việc học không chỉ nhằm đạt được danh vọng mà phải hướng tới mục tiêu nâng cao hiểu biết, giúp ích cho đời và đóng góp cho sự phát triển của xã hội.
.jpg)
Với tài năng và nghị lực, Lê Quý Đôn trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của nền khoa bảng Việt Nam thế kỷ XVIII. Sau khi đỗ đạt cao, ông được triều đình trọng dụng, lần lượt đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng và tham gia giải quyết các công việc trên nhiều lĩnh vực như hành chính, giáo dục, ngoại giao, quân sự và văn hóa. Dù ở bất kỳ cương vị nào, ông luôn thể hiện tư duy sắc bén, tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy và phẩm chất thanh liêm của một người trí thức yêu nước.
Đối với Lê Quý Đôn, học tập và nghiên cứu phải gắn với thực tiễn cuộc sống. Ông không chỉ nghiên cứu sách vở mà còn chú trọng khảo sát thực tế, tìm hiểu đời sống Nhân dân, điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa của từng vùng miền. Những điều quan sát được trong quá trình công tác được ông ghi chép, phân tích, đối chiếu với các nguồn tư liệu khác để hình thành những công trình nghiên cứu có giá trị. Đây chính là điểm nổi bật trong phương pháp làm việc khoa học của Lê Quý Đôn, thể hiện tư duy toàn diện và tinh thần tôn trọng sự thật.
Một trong những tư tưởng quan trọng của Lê Quý Đôn là đề cao vai trò của nhân tài đối với sự hưng thịnh của đất nước. Theo ông, quốc gia muốn phát triển phải biết phát hiện, đào tạo và sử dụng đúng người có tài, có đức; đội ngũ quan lại phải luôn giữ gìn phẩm chất, gần dân, vì dân và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân. Những quan điểm đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đất nước trong thời kỳ mới.
Không chỉ là một nhà quản lý tài năng, Lê Quý Đôn còn là một học giả lớn với di sản học thuật phong phú. Ông để lại nhiều công trình có giá trị trên các lĩnh vực lịch sử, địa lý, văn học, triết học, kinh tế, giáo dục và văn hóa như: “Vân đài loại ngữ”, “Kiến văn tiểu lục”, “Phủ biên tạp lục”, “Đại Việt thông sử”, “Toàn Việt thi lục”, “Quần thư khảo biện”…
Trong đó, “Vân đài loại ngữ” là một công trình tiêu biểu, thể hiện vốn hiểu biết sâu rộng và khả năng tổng hợp tri thức xuất sắc của Lê Quý Đôn trên nhiều lĩnh vực. Tác phẩm không chỉ tập hợp tri thức mà còn thể hiện tư duy phân tích, nhận xét độc lập của tác giả, phản ánh trình độ nghiên cứu đáng chú ý của một học giả Việt Nam thế kỷ XVIII.
“Phủ biên tạp lục” là công trình có giá trị đặc biệt về lịch sử, địa lý, kinh tế và đời sống xã hội vùng Thuận Hóa – Quảng Nam. Những ghi chép trong tác phẩm đã cung cấp nguồn tư liệu quý cho việc nghiên cứu lịch sử, địa lý và quá trình quản lý lãnh thổ của Việt Nam qua các thời kỳ.
Bên cạnh đó, các tác phẩm như “Đại Việt thông sử”, “Kiến văn tiểu lục”, “Toàn Việt thi lục” đã góp phần quan trọng trong việc lưu giữ, nghiên cứu lịch sử, văn hóa và văn học dân tộc. Qua các công trình của mình, Lê Quý Đôn không chỉ thể hiện vốn tri thức uyên thâm mà còn cho thấy trách nhiệm của một trí thức luôn mong muốn dùng hiểu biết để phục vụ đất nước.
Điểm nổi bật trong tư tưởng của Lê Quý Đôn là sự coi trọng tri thức và thực học. Ông cho rằng muốn đất nước hưng thịnh phải chăm lo giáo dục, phát triển kinh tế, trọng dụng người tài và xây dựng xã hội dựa trên nền tảng tri thức. Quan điểm “Phi nông bất ổn, phi công bất phú, phi thương bất hoạt, phi trí bất hưng” thể hiện tầm nhìn sâu rộng của ông về vai trò của các lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt nhấn mạnh vị trí của tri thức đối với sự phát triển quốc gia.
Ba trăm năm đã trôi qua, nhưng cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn vẫn luôn là nguồn cảm hứng lớn đối với các thế hệ người Việt Nam. Ông là biểu tượng của tinh thần tự học, lao động sáng tạo, đạo đức của người trí thức và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc. Những giá trị mà ông để lại tiếp tục có ý nghĩa trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển xã hội học tập.
Kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn không chỉ là dịp tưởng nhớ, tri ân một bậc hiền tài của dân tộc mà còn là cơ hội để mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, tiếp tục học tập và phát huy những giá trị tốt đẹp từ cuộc đời ông: tinh thần ham học hỏi, ý chí tự học, tư duy sáng tạo, phương pháp làm việc khoa học và khát vọng cống hiến vì quê hương, đất nước.
Cuộc đời và sự nghiệp của Lê Quý Đôn mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là minh chứng sinh động cho sức mạnh của trí tuệ, văn hóa và khát vọng vươn lên. Phát huy di sản của ông hôm nay chính là tiếp tục khơi dậy tinh thần học tập, ý chí tự lực, tự cường, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, góp phần thực hiện khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
